MỤC LỤC
Mục lục ............................................................................................. 1
Chuyện chàng Lía ........................................................................... 2
Ai mua hành tôi (hay Lọ nước thần)............................................. 4
Âm dương giao chiến....................................................................... 7
Anh chàng họ Đào ......................................................................... 10
Anh chàng nghèo khổ ................................................................... 13
Anh khờ được kiện ........................................................................ 17
Biển hồ lai láng.............................................................................. 20
Bính và Đinh.................................................................................. 23
Bích Câu kỳ ngộ ............................................................................ 27
Bó đũa............................................................................................. 29
Bợm già mắc bẫy cò ke.................................................................. 30
Bốn anh tài..................................................................................... 32
Bốn người bạn................................................................................ 35
Cây huyết dụ.................................................................................. 39
Cây khế........................................................................................... 41
Cây nêu ngày tết ........................................................................... 45
Cây tre trăm đốt............................................................................ 48
Chàng Na A'................................................................................... 50
Chiếc áo tàng hình ........................................................................ 55
Chiếc cầu phúc đức........................................................................ 59


CHUYÊN CHÀNG LÍA
Ngày xưa ở một làng nọ có vợ chồng người làm vườn nghèo khổ,
sinh được đứa con trai đặt tên là Lía. Chưa qua đời, Lía còn nhỏ tuổi
chịu cảnh mồ côi chưa. Thường ngày Lía theo mẹ bắt ốc hái rau để
sống. Lưúc lên mời tuổi, mẹ Lía đem Lía đợ cho một người nhà giàu
trong vùng để chăn trâu.
Thấy mẹ ăn uống cực khổ, Lía mới trộm gà của chủ đem về làm
thịt cho mẹ ăn. Mẹ Lía biết chuyện rầy la dữ lắm, Lía mới thôi không
trộm gà nữa.
Thường ngày, Lía đuổi trâu ra đồng để mặc trâu đi đâu thì đi,
còn Lía tụ tập vài ba đứa trẻ hoang, hết bày việc đánh nhau bằng gậy
gộc, lại rủ nhau trộm bầu bí, khoai lang củ sắn.
Một lần nọ, thằng Lía để trâu lạc vào vườn của phú ông làng
bên cạnh. Ông phú hộ truyền bắt trâu cột lại để bắt đền kẻ để trâu
phá vườn ông.
Bị mất trâu, thằng Lía không dám về nhà, nó rủ thằng Hung
và thằng Hoang đi tìm. Tình cờ nó nhìn được con trâu trong nhà ông
phú hộ. Nó liền bàn kế hoạch với hai thằng bạn của nó, đốt nhà ông
phú hộ, để mọi người lo cứu, bấy giờ nó lẻn vào bắt trâu đem về cho
chủ.
Chủ hay được, sợ liên lưuỵ, nên đuổi thằng Lía đi. Nó trở về
sống với mẹ già, và xin với mẹ nó cho nó đi học. Mẹ nó phải van lạy
ông thầy để cho nó được học. Nó rất tối dạ, lại hay sinh sự đưánh
nhau, nên thầy học không dám dạy nó nữa. Thằng Lía liền hợp với
thằng Hung và Hoang và vài đứa trẻ ngỗ nghịch đi bắt trộm gia súc
của người giàu trong làng, rồi đem về chia cho người nghèo. Hành
động của thằng Lía càng ngày càng lộng hành, người trong làng mới
hiệp nhau đầu cáo với quan trên. Làng lính liền tìm bắt Lía. Nó
hoảng sợ trốn lên tỉnh, được một viên đội tâm phúc của quan tỉnh
thâu nhận là thuộc hạ. Lía bèn học tập côn quyền võ nghệ. Càng lớn
lên, Lía càng có sức mạnh hơn người. Tánh nghĩa hiệp nên gặp
chuyện bất bình là xông vào can thiệp, vì vậy giữa Lía và bọn cường
hào ác bá thường có những trận gây gổ đánh nhau.
Năm đó có mở khoa thi, những ai giỏi lưuồn cúi hoặc có tiền đút
lót thì được đỗ, bằng không thì bị đánh hỏng dù văn hay chữ tốt. Tuy
học hành dở dang, Lía cũng vào thi, nhân thấy bọn tham quan bắt
nạt, ngợc đưãi kẻ nghèo nàn, Lía vô cùng bất bình. Thừa đêm tối,
cùng đưám bạn lẻn vào nhà viên chủ khảo giết chết người này rồi
trốn vào rừng.
Quân mở cuộc truy nã ráo riết. Lía chiêu tập đám người vô
nghề nghiệp lẩn lút trong rừng chống lại quan quân. Nhiều trận hai
bên giáp chiến dữ dội, quan quân đưại bại phải rút lưui. Lía đem bộ
hạ tràn ra làng xóm chiếm đoạt tài sản của người giầu chia cho người
nghèo. Thanh thế ngày càng lớn. Triều đình phải treo giải thưởng
cho ai bắt sống hoặc phải giết chết được thắng Lía. Nhưng Lía giỏi
lẩn trốn, thành ra quan quân phải bắt mẹ Lía đem ra thị oai. Nếu
thằng Lía không chịu ra nạp mình thì mẹ nó bị giết. Động lòng hiếu
đễ, thằng Lía phải chịu nạp mình cho mẹ được tha. Nhưng chẳng bao
lâu Lía trốn thoát.
Bấy giờ, Lía phải trốn tránh rất là cực khổ, đói khát nhiều
ngày. Bất đắc dĩ, Lía phải cải trang sửa dạng trốn vào trong thành để
kiếm sống. Quan quân dò xét biết liền bao vây lấy thành mở cuộc
lưục xét khắp nơi. Lía trốn vào nhà một ông lão hiền lành. Lúc này,
Lía nghe tin mẹ mình bị bệnh mà chết, các bộ hạ lớp bị bắt, lớp bị
giết thì đau lòng, không thiết gì sống nữa. Một hôm, Lía nói với ông
lão rằng: "Chưa bao giờ tôi bị thất bại chua cay như lần này. Có lẽ
trời hại tôi. Vậy ông hãy chặt đầu tôi đem nạp cho quan trên để lãnh
thưởng, chỉ còn cách đó để đền đáp ơn ông".
Ông lão bằng lòng. Lía tự trói mình để cho ông đẹm nạp quan
trên. Thế rồi Lía bị đem ra trảm quyết.
Đến sau có câu hát cảm thương Lía như sau:
Chiều chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành


AI MUA HÀNH TÔI (HAY LỌ NƯỚC THẦN)
Ngày xưa có một anh chàng trẻ tuổi chưa có vợ, sống bằng nghề
làm ruộng. Một ngày nọ anh xách búa lên rừng đốn củi. Trong khi
đưang lúi húi chặt cây, anh trông thấy một con quạ tha một con chim
sẻ tới đậu trên một phiến đá ở gần chỗ mình đang làm việc. Nhìn
thấy thế, anh bỗng động lòng thương con chim bé bỏng sắp sửa lọt
vào miệng loài ác điểu. Anh bèn nhặt hòn đưá ném con quạ. Quạ giật
mình bỏ mồi vỗ cánh bay lên. Tức mình vì hỏng ăn, quạ chửi rủa om
sòm. Anh nhặt đưá ném thêm và mắng:
- "Đồ chim dữ! Hãy cút ngay!".
Quạ hậm hực bay đi, miệng còn đe dọa sẽ báo thù. Anh chàng
chạy lại nhặt con chim sẻ đưang thoi thóp, cố tìm cách ấp ủ cho nó
sống lại. Quả nhiên, chỉ chừng giập bã trầu, con chim sẻ đã hồi tỉnh
và bay được. Nó cảm ơn anh và bảo anh ngồi chờ để nó đưa biếu một
vật. Một lát sau, con chim đã bay trở lại miệng ngậm một cái lọ bé
đặt xuống bên cạnh và nói
- "Đây là lọ nước thần có phép làm cho người già thì trẻ lại, vật
nhỏ thì lớn thêm, trần gian không ai có".
Nói rồi nó vỗ cánh bay đi. Anh ngồi tần ngần mở nút ra xem thì
thấy đầy một lọ nước mùi thơm ngào ngạt. Anh nghĩ bụng: "Những
thứ này chỉ để cho các bà quan làm đỏm, có đâu để hạng chúng ta
dùng". Rồi anh nút lọ lại cẩn thận, khi gánh củi về, treo lọ trên kèo
nhà. Và rồi thời gian trôi qua, vì bận công việc làm ăn, anh cũng
quên đi, không nghĩ tới cái lọ ấy nữa.
ít năm sau đó, chật vật mãi anh chàng mới cưới được vợ. Vợ
anh cũng con nhà nông, quanh năm chân lấm tay bùn, nên đen đủi,
xấu xí. Nhưng hai vợ chồng thì rất thương yêu nhau.
Một hôm chồng đi cày vắng, vợ ở nhà quét dọn khắp nơi. Thấy
một cái lọ con treo trên kèo nhà, chị bèn bắc ghế lấy xuống mở nút ra
xem. Khi ngửi thấy mùi thơm, chị ta đồ là dầu thơm gội đầu. Lát
sau, chị nấu nước tắm gội rồi tiện tay đổ lọ nước ra bôi khắp tóc tai
mình mẩy. Không ngờ sau khi bôi xong chị ta tự nhiên trở nên xinh
đẹp trắng trẻo, nhan sắc mỹ miều ít ai sánh kịp. Nước thần trôi
xuống mấy luống hành bên cạnh giếng, khiến cho những cây hành
cũng tự nhiên lớn phổng lên một cách lạ thường: củ to như bình vôi,
dọc dài bằng đòn gánh.
Khi người chồng đi cày về nhìn mặt vợ thì ngẩn cả người cứ
tưởng là tiên sa xuống cõi trần, nếu không có tiếng nói thì cơ hồ anh
không nhận ra là vợ mình. Nghe vợ nhắc đến lọ nước thơm, anh mới
sực nhớ tới chuyện báo đền của con chim sẻ ba năm về trước. Nỗi
mừng biết lấy chi cân, anh ngắm vợ mãi không chán mắt, rồi kể lại
câu chuyện cũ cho vợ nghe.
Từ đấy anh cứ quấn quýt lấy vợ không rời. Công việc đồng áng
vì thế cũng mời phần bê trễ. Nhưng cứ ở nhà mãi thì đói mất nên
anh đành phải đi làm. Để khỏi nhớ vợ, anh thuê thợ vẽ hình vợ. Mỗi
khi ra đồng làm việc, anh lại treo bức tranh ở bờ ruộng để nhìn cho
thỏa.
Một hôm anh đang cày ruộng, bức tranh được treo lên một cái
cọc cắm ở trên bờ. Vừa cày được mươi lưuống, tự nhiên con quạ năm
xưa ở đâu sà xuống quắp lấy bức tranh mang đi. Anh chưàng ở bên
kia bờ thấy vậy, bèn hò hét đuổi theo nhưng không kịp nữa. Quạ đưã
cất cánh bay cao và bay đi rất xưa, chỉ một loáng đưã mất hút. Báo
thù việc anh ném đưá giành mồi của nó ngày xưa, quạ mang bức
tranh vào đến tận kinh đô, thả xuống ở sân rồng. Bọn lính thị vệ
thấy sự lạ lùng, bèn nhặt lên đem trình vua. Cầm lấy bức truyền
thần vua ngắm nghía mãi không chán mắt, bụng bảo dạ: "Trong ba
cung sáu viện của ta đã có nhiều người đẹp, nhưng chưa có người nào
đẹp bằng người đàn bà trong tranh này. Hẳn là trời sai con quạ đến
mách cho ta đây!".
Lập tức vua ra lệnh cho một quan đưại thần và một trăm thị vệ
phải tìm cho được người đàn bà đưã vẽ trong tranh mang về. Quan
đưại thần cho người về các địa phương sục sạo khắp hang cùng ngõ
hẻm. Để việc tìm tòi có hiệu quả, chúng bày ra trò mở hội ở các vùng
chúng đến để cho mọi người đổ về xem. Mỗi lần thấy dân tập hợp
đông đúc, chúng đưa bức tranh ra giả tảng nói là tình cờ bắt được,
người nào mất thì đến mà nhận.
Một hôm, chúng tới vùng quê hai vợ chồng anh chàng có lọ nước
thần và cũng bày trò mở hội ba đêm ngày. Quả nhiên anh chàng sa
vào mưu gian. Khi nhìn thấy bức tranh anh không đắn đo gì cả, lật
đật bước tới để nhận. Nhưng anh không ngờ bọn lính chộp lấy anh
như chộp con mồi. Chúng theo ngay anh về nhà và chúng tìm thấy
ngay người 